Công cụ chuyển đổi TAR.LZO (TLZO) sang TAR
Chuyển đổi file tar.lzo sang tar trực tuyến và miễn phí
tar.lzo
tar
Làm thế nào để chuyển đổi TAR.LZO sang TAR
Lựa chọn các tập tin từ Máy tính, Google Drive, Dropbox, URL hoặc bằng cách kéo tập tin vào trang này.
Chọn tar hoặc bất kỳ định dạng nào khác bạn cần chuyển đổi sang (hỗ trợ hơn 200 định dạng)
Hãy để tập tin chuyển đổi và bạn có thể tải tập tin tar của bạn xuống ngay sau đó
Về các định dạng
TAR.LZO is a compound archive format pairing TAR) archiving with LZO (Lempel-Ziv-Oberhumer) compression, created by Markus Oberhumer in 1996. The TAR layer bundles files with Unix metadata, and the LZO algorithm compresses the stream prioritizing decompression speed above all else. LZO is an asymmetric compressor — it sacrifices compression ratio for extremely fast decompression, operating at speeds that approach raw memory bandwidth on modern hardware. This makes TAR.LZO ideal for scenarios where archives must be extracted quickly and frequently, such as real-time backup systems and embedded device firmware images. One advantage is decompression performance — LZO extraction is several times faster than gzip and an order of magnitude faster than bzip2, critical for time-sensitive operations like boot-time filesystem initialization or rapid backup restoration. The low CPU overhead during extraction is another strength, making TAR.LZO practical on resource-constrained embedded systems and for streaming decompression without buffering. The lzop command-line tool integrates with tar via pipeline, and the format is used in the Linux kernel's initramfs, Btrfs filesystem compression, and various real-time data processing systems where extraction latency matters more than archive size.
TAR (Tape Archive) là định dạng lưu trữ Unix bắt nguồn từ phiên bản 7 Unix) tại AT&T Bell Labs vào tháng 1 năm 1979, ban đầu được thiết kế để ghi sao lưu tệp vào băng từ. Khác với ZIP hoặc RAR, TAR là định dạng lưu trữ thuần túy, nối các tệp thành một luồng duy nhất mà không áp dụng nén — mỗi tệp được đặt trước bởi khối header 512 byte chứa tên tệp, quyền truy cập, quyền sở hữu, kích thước, thời gian sửa đổi và mã kiểm tra, tiếp theo là dữ liệu tệp được đệm đến ranh giới 512 byte. Định dạng đã phát triển qua nhiều tiêu chuẩn: định dạng V7 gốc, định dạng ustar theo POSIX.1-1988 (mở rộng độ dài đường dẫn và hỗ trợ nhiều loại tệp hơn), và định dạng pax theo POSIX.1-2001 hỗ trợ thuộc tính mở rộng, đường dẫn dài tùy ý và kích thước tệp lớn. TAR hầu như luôn được kết hợp với công cụ nén — gzip (.tar.gz/.tgz), bzip2 (.tar.bz2/.tbz2), xz (.tar.xz) hoặc khác — tạo ra cấu trúc hai lớp trong đó nén tác động lên toàn bộ luồng để đạt hiệu quả tối đa. Một ưu điểm là độ trung thực siêu dữ liệu Unix đặc biệt — TAR bảo toàn quyền truy cập, quyền sở hữu, liên kết tượng trưng, liên kết cứng, tệp thiết bị và thuộc tính mở rộng với độ chính xác cao hơn hầu hết các định dạng cạnh tranh. Tính khả dụng phổ quát là một thế mạnh cốt lõi khác: tar là tiện ích bắt buộc theo POSIX có mặt trên mọi hệ thống giống Unix, và các công cụ trên Windows và macOS xử lý tệp TAR một cách tự nhiên. TAR vẫn là định dạng phân phối chuẩn cho mã nguồn, ảnh hệ thống tệp Linux, các lớp container và sao lưu hệ thống.