Công cụ chuyển đổi TAR.LZMA (TLZMA) sang CPIO
Chuyển đổi file tar.lzma sang cpio trực tuyến và miễn phí
tar.lzma
cpio
Làm thế nào để chuyển đổi TAR.LZMA sang CPIO
Lựa chọn các tập tin từ Máy tính, Google Drive, Dropbox, URL hoặc bằng cách kéo tập tin vào trang này.
Chọn cpio hoặc bất kỳ định dạng nào khác bạn cần chuyển đổi sang (hỗ trợ hơn 200 định dạng)
Hãy để tập tin chuyển đổi và bạn có thể tải tập tin cpio của bạn xuống ngay sau đó
Về các định dạng
TAR.LZMA is a compound archive format combining TAR) archiving with the LZMA (Lempel-Ziv-Markov chain Algorithm) compression method developed by Igor Pavlov for the 7-Zip project around 1998. The TAR layer concatenates files with Unix metadata into a single stream, and the LZMA algorithm compresses it using a sophisticated combination of LZ77 dictionary matching with large dictionaries (up to 4 GB), Markov chain-based probability modeling, and range coding. LZMA was the predecessor to the LZMA2 algorithm used in XZ and 7Z formats. Compression ratios significantly exceed gzip and are comparable to bzip2 while offering substantially faster decompression. One advantage is the high compression ratio with fast extraction — LZMA decompresses at speeds close to gzip while achieving compression densities near bzip2 or better, making it efficient for distribution archives that are compressed once and extracted many times. The format is supported by tar's --lzma flag and by 7-Zip across all platforms. While TAR.LZMA has been largely succeeded by TAR.XZ (which uses LZMA2 in a more robust container with integrity checks), existing TAR.LZMA archives remain encountered in software distributions and backup systems that adopted the format before XZ became widely available.
CPIO (Copy In, Copy Out) là định dạng lưu trữ Unix có từ hệ thống PWB/UNIX tại AT&T Bell Labs vào năm 1977, xuất hiện trước cả định dạng tar. Tên gọi mô tả thao tác ban đầu của công cụ: sao chép tệp vào kho lưu trữ và sao chép tệp ra khỏi kho lưu trữ. CPIO lưu trữ các tệp tuần tự với phần header cho từng tệp chứa tên tệp, thông tin inode, quyền truy cập, quyền sở hữu, dấu thời gian và kích thước tệp, tiếp theo là dữ liệu tệp. Định dạng tồn tại dưới nhiều biến thể: định dạng nhị phân gốc, định dạng ODC (hướng octet) theo POSIX.1, định dạng newc của SVR4 với các trường thiết bị và inode mở rộng, và biến thể CRC bổ sung xác minh mã kiểm tra. Khác với tar, CPIO đọc danh sách tệp cần lưu trữ từ đầu vào chuẩn, giúp nó kết hợp tự nhiên với find và các tiện ích Unix khác thông qua ống dẫn (pipe). Một ưu điểm là bảo toàn siêu dữ liệu Unix trung thực — CPIO ghi lại số thiết bị, thông tin inode và mối quan hệ liên kết cứng với độ chính xác cao hơn các phiên bản tar trước đó, phù hợp cho sao lưu cấp hệ thống và lưu trữ tệp thiết bị. Vai trò trung tâm của định dạng trong quản lý gói Linux là một ý nghĩa thực tiễn khác: định dạng gói RPM sử dụng CPIO làm chứa dữ liệu bên trong, nghĩa là mọi hệ thống Linux dựa trên RPM đều phụ thuộc vào việc giải nén CPIO. Mặc dù tar đã trở nên phổ biến hơn cho lưu trữ tổng quát, CPIO vẫn được sử dụng trong quản trị hệ thống, ảnh initramfs và hạ tầng quản lý gói.